Luật Bảo vệ môi trường – Những điểm sáng trong công tác quản lý

Luật Bảo vệ môi trường luôn không ngừng được kiến nghị sửa đổi nhằm giải quyết những nhức nhối trong thực trạng môi trường ở nước ta hiện nay. Sự thật là các điều luật được đưa ra chưa thể xử lý ổn thỏa cũng như giải quyết triệt để những vấn đề đặt ra, tuy nhiên, nhìn vào những đổi mới, có thể thấy được các điểm sáng thể hiện sự quan tâm, nỗ lực của nhà nước đối với mục tiêu chung.

Xem thêm: Môi trường là gì? Tại sao phải bảo vệ môi trường?

Luật bảo vệ môi trường

Luật bảo vệ môi trường

Luật sửa đổi Luật bảo vệ môi trường ban hành tháng 6 năm 2014 đã nhấn mạnh vai trò của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công cuộc chống ô nhiễm và giảm suy thoái môi trường. Trong đó, các vấn đề như xử lý rác thải, tăng diện tích cây xanh, đánh giá và xử phạt các hoạt động môi trường,… đều được triệt để quan tâm và chỉ ra rõ ràng.

Cùng nhìn lại cụ thể những đổi mới trong bộ luật:

Lập báo cáo đánh giá các tác động đến môi trường

Báo cáo Đánh giá tác động môi trường ĐTM là việc phân tích, dự báo các tác động của dự án đầu tư đến môi trường để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi đưa dự án vào hoạt động. Việc lập Báo cáo này là phương pháp tối ưu khiến các doanh nghiệp, tổ chức ý thức rõ hơn về hành vi, tác động của mình đối với môi trường đồng thời là cơ sở để các cơ quan chức năng đánh giá, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đó. Từ những báo cáo đánh giá đưa ra, cả nhà chức trách và doanh nghiệp đều phải cùng ngồi lại, đề ra những giải pháp, phương án phù hợp để chữa đúng bệnh, trị đúng tội.

Theo quy định tại Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường 2014, 03 nhóm đối tượng sau phải thực hiện đánh giá tác động môi trường:

  • Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng
  • Dự án có sử dụng đất của khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, vườn quốc gia, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;
  • Dự án tiềm ản nguy cơ tác động xấu đến môi trường

Quy trình lập báo cáo đánh giá tác động đến môi trường cũng được đề ra rõ ràng với 13 công đoạn từ khảo sát điều kiện địa lý, địa chất, khí tượng thủy văn đến lập hội đồng thẩm định, phê duyệt các báo cáo. Thời gian thẩm định, phê duyệt kéo dài từ 15 đến 45 ngày cho thấy sự nghiêm túc, kĩ lưỡng trong quá trình làm việc của các bên liên quan.

Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại những mặt tối chưa được công khai mà các nhà chức trách cũng khó có thể kiểm định. Chỉ khi những vụ bê bối được phanh phui, phản ánh thực chất bởi người dân, doanh nghiệp mới lên tiếng bao biện cho hành động của mình. Xét về những mặt hạn chế này, những đề nghị cải cách đã được đưa ra trong đó báo cáo đánh giá tác động đến môi trường không chỉ được gửi đi từ một phía của doanh nghiệp, tổ chức mà còn cần đến sự xác nhận, phản ánh khách quan của người dân địa phương, các bên liên quan chịu ảnh hưởng.

Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ

Bộ Luật Chương VII bổ sung điều luật về bảo vệ môi trường trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

So với các điều luật gần đây, bộ Luật đã làm rõ những điều khoản về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp, đặc khu kinh tế, các khu xuất khẩu, công nghệ cao và khu kinh doanh hàng hóa dịch vụ tập trung. Vai trò của doanh nghiệp trong việc quản lý hoạt động bảo vệ môi trường và tổ chức các hoạt động môi trường ở những vùng này đều được chỉ rõ trong bộ luật.

Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định rõ điều kiện để cá nhân, tổ chức được phép nhập khẩu phế liệu. Theo đó, điểm a Khoản 3 Điều 76 quy định cá nhân, tổ chức chỉ được nhập khẩu phế liệu để làm nguyên liệu sản xuất.

Cụ thể, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải đảm bảo:

  • Phế liệu nhập khẩu thuộc 36 loại phế liệu được liệt kê tại Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu do Thủ tướng quy định tại Quyết định 73/2014/QĐ-TTg;
  • Xử lý tạp chất đi kèm phế liệu đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; không được cho, bán tạp chất đi kèm phế liệu;
  • Phải tái xuất phế liệu không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường; trường hợp không tái xuất được thì phải xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải;
  • Thực hiện ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu theo quy định của Chính phủ.

Từ ngày 01/10/2018, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu không cấp phép nhập khẩu phế liệu qua đường bộ. Trước đó, Thông báo 281/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ ngày 07/08/2018 cũng khẳng định sẽ rà soát lại Giấy phép nhập khẩu phế liệu của các đơn vị.

Xử lý rác thải, phế liệu

Theo bộ Luật, rác thải phải được xử lý với đủ công đoạn bao gồm: điện phân, nghiền, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái sản xuất và phân hủy.

Chủ thể của sản xuất, doanh nghiệp và các bên phát hành dịch vụ đều phải thu hồi và xử lý phế liệu do mình tạo ra. Các bên chức trách về môi trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho những đội ngũ này tổ chức thu gom và xử lý rác thải. Người dân cũng cần vứt rác đúng nơi theo quy định để thuận tiện cho quá trình thu gom và xử lý.

Bên cạnh đó, bộ Luật bổ sung điều khoản đối với các rác thải độc hại. Rác thải có chứa chất gây hại phải được đưa vào nhà máy xử lý rác thải chuyên biệt. Theo điều 90, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề ra các quy định về xử lý chất thải gây hại. Bộ luật cũng quy định rõ các đối tượng phải được cấp phép mới được xử lý những rác thải nguy hại.

Rác thải nguy hại

Rác thải nguy hại

Theo đó, chủ nguồn thải chất thải nguy hại (CTNH) phải lập hồ sơ về CTNH và đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện và có giấy phép mới được xử lý CTNH quy định tại Mục 2 Luật Bảo vệ môi trường 2014.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều nhức nhối. Mùi hôi thối bốc ra từ bãi xử lý rác thải ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân quanh khu vực là một dấu hiệu cảnh tỉnh nước ta trong vấn đề xử lý rác thải. Chôn lấp là phương pháp xử lý rác thải kém hiệu quả nhất, khi so với các công nghệ và quy trình tiên tiến của Thuỵ Điển, Áo, Bỉ hoặc Nhật. Theo dòng lịch sử, chôn lấp là phương pháp xử lý rác thải rắn đầu tiên và cổ xưa nhất của loài người, được áp dụng từ năm 320 trước công nguyên. Tồn tại cả nghìn năm, việc chôn lấp rác thải được coi là hạ sách, khi nó rất lạc hậu và kém hiệu hiệu quả. Bắt kịp công nghệ tiên tiến là điều còn xa, tuy nhiên chúng ta có khả năng cải thiện và làm tốt hơn hiện tại, minh chứng là sự ra đời của hàng loại các nhà máy xử lý thủy phân, nhiệt phân.

Cần thấy rằng, điểm chung của những quốc gia xử lý rác thải hiệu quả là đến từ ý thức phân loại rác và đổ rác đúng nơi quy định của người dân. Tiếp đến là ý thức của doanh nghiệp, tổ chức đối với môi trường. Chỉ khi họ bằng lòng đầu tư vì môi trường, sẵn sàng đóng góp cho xã hội, câu chuyện xử lý rác thải mới không còn luẩn quẩn trong vòng xoay “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Cây xanh cần chiếm tối thiểu 10% tổng diện tích cụm công nghiệp

Khi công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng phát triển, càng nhiều khu công nghiệp nhà máy ra đời. Trong quá trình hoạt động, các khu công nghiệp nhà máy đã sản sinh ra một nguồn chất thải, khí thải, nước thải, khói bụi … “dồi dào” gửi gắm vào môi trường sống. Những chất thải này là nguyên nhân chính dẫn tới sự biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay. 

Chính vì vậy, việc trồng cây xanh trong khu công nghiệp, nhà máy càng được quan tâm và đẩy mạnh. Nó không chỉ giúp cải tạo cảnh quan thiên nhiên mà còn giảm thiểu tối đa những hệ lụy mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại như: làm sạch môi trường, giảm khí độc hại, giảm hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu do nhiệt độ tăng,… Những loại cây được gợi ý cho các khu công nghiệp, nhà máy hiện nay bao gồm: cây dầu rái, bàng Đài Loan, giáng hương, sao đen,…

Bảo vệ môi trường khu công nghiệp

Bảo vệ môi trường khu công nghiệp

Bảo vệ môi trường khu công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung là nội dung được quy định tại Điều 67 Luật Bảo vệ môi trường 2014. Cụ thể hóa những nội dung trên, Thông tư  31/2016/TT-BTNMT quy định trách nhiệm của chủ đầu tư:

  • Không được mở rộng cụm công nghiệp, tiếp nhận thêm dự án đầu tư vào cụm công nghiệp nếu cụm công nghiệp chưa có công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường;
  • Nộp phí bảo vệ môi trường đầy đủ;
  • Bố trí ít nhất 01 cán bộ trình độ đại học trở lên đúng chuyên ngành phụ trách bảo vệ môi trường;
  • Ngoài ra, cụm công nghiệp còn phải đáp ứng các điều kiện khác về cảnh quan, hạ tầng thiết bị:
  • Diện tích cây xanh tối thiểu chiếm 10% tổng diện tích;
  • Trang bị đồng hồ đo lưu lượng nước, công tơ điện tử độc lập; điểm xả thải có biển báo; sàn công tác có diện tích tối thiểu 01 m2, lối đi thuận tiện;
  • Lưu lượng nước thải của hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung từ 1.000 m3/ngày, đêm trở lên phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục…

Kéo dài thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực môi trường

Trước khi Luật Bảo vệ môi trường 2014 ra đời, nguyên tắc tính thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về môi trường được áp dụng theo Bộ luật Dân sự 2005. Trong đó đã chỉ rõ: “Kể từ ngày lợi ích hợp pháp và quyền lợi của pháp nhân, cá nhân, các chủ thể khác bị xâm hại, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm”.

Nhận thấy cách tính này không phù hợp với đặc thù xuất hiện muộn của hậu quả ô nhiễm môi trường có thể lên đến hàng chục năm sau, Khoản 3 Điều 162 Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã quy định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là kể từ khi nạn nhân phát hiện ra thiệt hại của mình do hành vi vi phạm pháp luật môi trường của tổ chức, cá nhân khác.

Cụ thể, người bị thiệt hại sau khi nhận biết hậu quả của hành vi vi phạm tác động đến mình có thời hạn 03 năm để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc, đòi bồi thường thiệt hại, điều này được quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015.

Trong Luật bổ sung Luật bảo vệ môi trường, những điều khoản đã được bổ sung và quy định rõ ràng hơn nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của công nghiệp, còn rất nhiều vấn đề đặt ra đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân, những kiến nghị sửa đổi không ngừng được đề ra trong bối cảnh hiện nay. Điều chúng ta chờ đợi là ở một bộ luật mới đầy đủ hơn, tiến bộ hơn cũng như ý thức tự giác đối với từng cá nhân, tổ chức để đạt được hiệu quả trong công cuộc bảo vệ môi trường chung.

 

 

Luật Bảo vệ môi trường – Những điểm sáng trong công tác quản lý
5 (100%) 1 vote

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *